Thông tin phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 3/2019

Thứ ba - 12/03/2019 09:10 25 0
Ngày 21/01/2019, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 28-CT/TW về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng
THÔNG TIN PHỤC VỤ SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 3/2019
I. Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng
Ngày 21/01/2019, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 28-CT/TW về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Để nâng cao chất lượng đảng viên và công tác kết nạp đảng viên, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:
(1) Nâng cao nhận thức, quán triệt đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có trách nhiệm cao trong công việc, gắn bó với nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách; luôn phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đây là nhiệm vụ cấp thiết, thường xuyên, trước mắt và lâu dài của các cấp ủy, tổ chức đảng.
(2) Chấn chỉnh công tác kết nạp đảng viên, khắc phục triệt để tình trạng chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng.
- Việc kết nạp đảng viên và công nhận đảng viên chính thức phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, thủ tục theo quy định. Đảng viên mới được kết nạp phải là quần chúng thực sự ưu tú, có phẩm chất chính trị tốt, đạo đức trong sáng, được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, có nhận thức đúng, đầy đủ về Đảng, động cơ vào Đảng đúng đắn. Cấp ủy có thẩm quyền có thể quy định tiêu chuẩn, điều kiện kết nạp đảng viên cao hơn quy định chung để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị.
- Các cấp ủy, chi bộ thường xuyên lãnh đạo các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, qua đó phát hiện nhân tố tích cực, nhất là đoàn viên thanh niên, công nhân, người lao dộng có thành tích, gương mẫu trong phong trào, có uy tín trong nhân dân để có kế hoạch bồi dưỡng, tạo điều kiện cho họ phấn đấu trở thành đảng viên của Đảng.
- Nâng cao chất lượng bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho đối tượng kết nạp đảng. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện nội dung chương trình, tài liệu bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng và đảng viên mới bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Đồng thời, xây dựng quy trình, hướng dẫn việc kiểm tra, đánh giá nhận thức cuối khóa học bảo đảm kết quả học thực chất.
Các cấp ủy thường xuyên kiểm tra việc tổ chức các lớp bồi dưỡng đối tượng đảng, kịp thời chấn chỉnh và xử lý nghiêm các sai phạm, hành vi tiêu cực trong tổ chức thực hiện.
- Thực hiện nghiêm túc quy định thẩm tra lý lịch và lấy ý kiến nhận xét của tổ chức chính trị - xã hội đối với người được xem xét kết nạp vào Đảng. Cấp ủy và người được giao thẩm tra phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm tra lý lịch, người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội phải chịu trách nhiệm về nhận xét của mình đối với đối tượng đảng.
(3) Tăng cường công tác quản lý, giáo dục đảng viên.
- Đổi mới và nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị, học tập nghị quyết đối với đảng viên. Chủ động khắc phục những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, vụ lợi, cá nhân, trung bình chủ nghĩa.
- Cấp ủy các cấp phân công cấp ủy viên phụ trách, thường xuyên làm việc với chi ủy, chi bộ và tiếp xúc với đảng viên để nắm bắt, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của đảng viên; bảo vệ những đảng viên trung thực, thẳng thắn trong đấu tranh chống tiêu cực.
- Chi bộ thực hiện tốt việc phân công công tác cho đảng viên, bảo đảm mọi đảng viên trong chi bộ đều được phân công công tác phù hợp. Đối với những đảng viên là cán bộ nghỉ hưu, sức khỏe yếu và tự nguyện thì cho miễn sinh hoạt đảng và công tác theo đúng quy định.
- Cấp ủy đảng bộ cơ sở và cấp ủy có thẩm quyền thực hiện nghiêm túc quy định về quản lý sinh hoạt đảng và chuyển sinh hoạt đảng, cấp ủy khi thực hiện việc chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên, phải thông báo bằng văn bản cho cấp ủy cơ sở nơi đảng viên được chuyển đến.
- Cấp ủy đảng bộ cơ sở tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy định về chế độ sinh hoạt đảng theo định kỳ, sinh hoạt chuyên đề và chế độ đóng đảng phí. Bảo đảm việc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả. Định kỳ 6 tháng, cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng phải tiến hành kiểm tra các chi bộ việc thực hiện quy định về sinh hoạt đảng và việc quản lý đảng viên; thông báo kết quả kiểm tra trong toàn đảng bộ và yêu cầu khắc phục những hạn chế, khuyết điểm.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý đảng viên, bảo đảm đồng bộ, liên thông trong toàn Đảng. Sớm hoàn thành việc nâng cấp và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu đảng viên. Trong năm 2019 tiến hành tổng điều tra tình hình đội ngũ đảng viên.
(4) Thực hiện nghiêm túc công tác rà soát, sàng lọc đảng viên; kiên quyết, kịp thời đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.
- Đề cao tính kỷ luật, kỷ cương của Đảng, tính chiến đấu, tự phê bình, phê bình và nâng cao trách nhiệm đảng viên trong sinh hoạt chi bộ.
- Các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên rà soát, sàng lọc đội ngũ đảng viên ngay từ các chi bộ, kịp thời phát hiện và kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng bằng các hình thức thích hợp. Trước mắt, từ nay đến ngày 19/5/2019, các cấp ủy, tổ chức đảng tiến hành một đợt rà soát đội ngũ đảng viên, qua đó làm rõ những đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, những đảng viên không thực hiện đúng chế độ chuyển sinh hoạt hoặc đã chuyển sinh hoạt đảng, nhưng không nộp hồ sơ cho tổ chức đảng có thẩm quyền, những đảng viên vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước, những đảng viên thiếu gương mẫu, uy tín trong nhân dân thấp, qua đó chọn lọc, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn đủ tư cách; khắc phục triệt để tình trạng dễ dãi, nể nang, né tránh trong công tác đánh giá, phân loại đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.
Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan liên quan hướng dẫn tiêu chí, quy trình đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.
(5) Các cấp ủy, tổ chức đảng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp triển khai thực hiện có hiệu quả Quy định số 124-QĐ/TW, ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, thực hiện tốt việc giám sát các tổ chức đảng và đảng viên. Tích cực phát hiện, giới thiệu quần chúng ưu tú cho tổ chức đảng; đồng thời, giám sát đảng viên, phát hiện cho tổ chức đảng những đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
(6) Các cấp ủy, tổ chức đảng có kế hoạch quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong việc nâng cao chất lượng đảng viên. Kết quả thực hiện Chỉ thị là một tiêu chí để đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và người đứng đầu cấp ủy.
(7) Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với các cơ quan liên quan tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và hằng năm báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Chỉ thị.
II. HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÀ NƯỚC VÀ THÔNG TIN QUỐC TẾ
1. Kết quả chuyến thăm chính thức Triều Tiên của Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh
Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh thăm chính thức CHDCND Triều Tiên từ ngày 12-14/02/2019. Trong chuyến thăm, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có các cuộc hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao CHDCND Triều Tiên Ri Yong Ho và Phó Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng Ban Quốc tế Đảng Lao động Triều Tiên Ri Su Yong; thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Triều Tiên.
Tại cuộc hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Triều Tiên Ri Yong Ho, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định nỗ lực cùng Triều Tiên thúc đẩy giao lưu, hợp tác trên các lĩnh vực phù hợp với tiềm năng và lợi ích của mỗi nước, quy định của mỗi nước cũng như quốc tế, vì hòa bình, phát triển của khu vực và trên thế giới. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ với Triều Tiên kinh nghiệm xây dựng đất nước, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế trên cơ sở các đề nghị của Triều Tiên. Về các vấn đề liên quan đến Bán đảo Triều Tiên, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam là ủng hộ đối thoại nhằm duy trì hòa bình, an ninh, ổn định trên Bán đảo Triều Tiên và sẵn sàng đóng góp tích cực vào tiến trình này.
Bộ trưởng Ngoại giao Triều Tiên Ri Yong Ho nhấn mạnh mong muốn thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ hơn nữa, nhất là trong năm 2020 dịp kỷ niệm 70 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao; nhất trí trao đổi các biện pháp tăng cường quan hệ song phương phù hợp với tình hình mới; cảm ơn lập trường và những nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy tiến trình đối thoại vì hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển trên Bán đảo Triều Tiên.
Hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước; nhất trí tiếp tục phối hợp tại các diễn đàn quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, Hội nghị Phong trào không liên kết, diễn đàn khu vực ARF, các hội nghị, diễn đàn quốc tế giữa các chính đảng..., tăng cường trao đổi về những vấn đề hai bên cùng quan tâm như duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực.
Trong hội đàm với Phó Chủ tịch Ban chấp hành trung ương Đảng, Trưởng Ban Quốc tế Đảng Lao động Triều Tiên Ri Su Yong, Phó Chủ tịch Ri Su Yong khẳng định lập trường trước sau như một của Đảng, Chính phủ Triều Tiên coi trọng và quyết tâm tiếp tục củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước do Chủ tịch Kim Nhật Thành và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và vun đắp, coi đây là di sản quý báu cần được giữ gìn và phát huy; đánh giá cao và bày tỏ tin tưởng, chuyến thăm CHDCND Triều Tiên lần này của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sẽ góp phần quan trọng vào việc củng cố và tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước và hợp tác giữa hai Đảng; đánh giá cao những thành tựu quan trọng mà nhân dân Việt Nam đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và nâng cao vị thế quốc tế; bày tỏ mong muốn thăm Việt Nam để tăng cường giao lưu, hợp tác giữa hai Đảng trong thời gian tới.
 2. Về chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào và thăm cấp Nhà nước Campuchia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng
Nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Bun-nhăng Vo-la-chít và Quốc vương Campuchia Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào (từ ngày 25-26/02/2019) và thăm cấp Nhà nước Vương quốc Campuchia (từ ngày 26-27/02/2019). Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; chuyến thăm diễn ra vào năm bản lề Việt Nam và Lào triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội của mỗi Đảng và hai Đảng đang chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc của mỗi Đảng và Campuchia bước sang một giai đoạn mới sau khi Đảng Nhân dân Campuchia giành quyền kiểm soát toàn bộ 03 cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Về quan hệ Việt Nam - Lào: Quan hệ Việt Nam - Lào tiếp tục được củng cố và tăng cường, phát triển đi vào chiều sâu. Hai bên đã chủ động và tích cực phối hợp thực hiện hiệu quả cả Thỏa thuận giữa hai Bộ Chính trị, các Hiệp định, Thỏa thuận kế hoạch hợp tác giữa hai Chính phủ, cũng như các Thỏa thuận, chương trình, kế hoạch hợp tác giữa các ban, bộ, ngành, đoàn thể, địa phương hai nước; tích cực tìm các biện pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong hợp tác để thúc đẩy triển khai các nội dung đã thỏa thuận. Đầu tháng 01/2019, hai bên đã tổ chức thành công Kỳ họp lần thứ 41 Ủy ban liên Chính phủ hợp tác song phương Việt Nam - Lào.
Quan hệ chính trị ngày càng gắn bó tin cậy, giữ vai trò nòng cốt, định hướng tổng thể quan hệ hai nước; hợp tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục có bước phát triển mới, đi vào chiều sâu và hiệu quả, là trụ cột trong quan hệ Việt Nam - Lào; hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học - kỹ thuật có chuyển biến tích cực; hợp tác giữa các ban, bộ, ngành, ủy ban của Quốc hội, Mặt trận, đoàn thể, tổ chức nhân dân, địa phương của hai nước tiếp tục được đẩy mạnh và đi vào thực chất hơn.
Về quan hệ Việt Nam - Campuchia: Quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia tiếp tục được củng cố và tăng cường trên các lĩnh vực, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước. Về quan hệ chính trị, hai bên tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác giữa hai Đảng, hai nhà nước. Hợp tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục được củng cố và tăng cường. Hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học - kỹ thuật tiếp tục phát triển. Quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, giữa các đoàn thể quần chúng và giữa các đỉa phương, nhất là các địa phương có chung biên giới của hai nước ngày càng phong phú, thiết thực và có hiệu quả.
Mục đích chuyến thăm:
Mục đích thăm Lào:
- Khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam đặc biệt coi trọng và dành ưu tiên cao trong quan hệ với Lào; củng cố, tăng cường quan hệ đoàn kết đặc biệt, gắn bó, tin cậy và hợp tác toàn diện giữa hai đảng, hai nước.
- Khẳng định sự ủng hộ toàn diện đối với công cuộc đổi mới, bảo vệ và xây dựng đất nước Lào, nhất là việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội X và chuẩn bị tổ chức tốt Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.
- Trao đổi về chủ trương, định hướng các nội dung hợp tác, biện pháp lớn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác Việt Nam – Lào trên tổng thể các lĩnh vực hợp tác.
Mục đích thăm Campuchia:
- Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và dành ưu tiên cho việc củng cố và  tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Campuchia đi vào chiều sâu, ổn định bền vững.
- Tăng cường sự tin cậy, gắn bó giữa Đảng ta với CPP, giữ vai trò định hướng chiến lược cho quan hệ hai nước; tranh thủ tình cảm tốt đẹp đối với Việt Nam của Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni và Hoàng tộc, đồng thời hạn chế sự chống phá, chia rẽ quan hệ hai nước của các lực lượng đối lập, thù địch.
- Trao đổi các định hướng, biện pháp lớn thúc đẩy quan hệ song phương trong giai đoạn mới; tạo điều kiện chính trị thuận lợi để thúc đẩy giải quyết một số vấn đề còn tồn tại trong quan hệ giữa hai nước.
3. Một số kết quả đạt được trong hợp tác Asean 2018; các ưu tiên của năm 2019
Những kết quả đạt được trong hợp tác ASEAN 2018
- Hợp tác Chính trị - an ninh: tính đến tháng 11/2018, đã có 255/290 dòng hành động của Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Chính trị an ninh (APSC) 2025 được đưa vào triển khai, đạt tỷ lệ thực thi 88%... Về Biển Đông, ASEAN tiếp tục thể hiện đoàn kết, duy trì được tiếng nói chung; tái khẳng định những nguyên tắc đã nhất trí, đồng thời bổ sung thêm một số thành tố mới phù hợp với phát triển của tình hình. Thương lượng COC đã đạt một số tiến triển, trong đó có việc ASEAN và Trung Quốc nhất trí thể thức, nguyên tắc và đặc biệt là Văn bản đàm phán đơn nhất dự thảo COC để làm cơ sở cho thương lượng. Hiện tại, hai bên nhất trí phấn đấu hoàn tất lần rà soát thứ nhất vào 2019.
- Hợp tác Kinh tế: ASEAN đã hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại Điện tử ASEAN và Khung hội nhập số ASEAN; Hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại Dịch vụ ASEAN (ATISA); thông qua Tuyên bố ASEAN về Du lịch hành trình trên biển; hoàn tất Quy tắc ứng xử về Xây dựng xanh của ASEAN... Về thương mại hàng hóa, ASEAN đã xóa bỏ 98,6% thuế nhập khẩu theo cam kết trong Hiệp định ATIGA; dự kiến hoàn tất xóa bỏ hoàn toàn hạn ngạch thuế quan vào đầu năm 2019. Trong hợp tác kinh tế với các đối tác, ASEAN đang đàm phán nâng cấp các FTA đã ký với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ốt-xtrây-li-a, Niu Di-lân và Ấn Độ...
- Hợp tác Văn hóa - xã hội: Đến nay, 8% các dòng hành động trong Kế hoạch tổng thể (KHTT) Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN (ASCC) 2025 đã hoàn thành, 47% đang được thảo hiện và 45% sẽ được thực hiện trong các năm tới, 14/15 cơ quan chuyên ngành trong ASCC đã hoàn tất xây dựng kế hoạch công tác trong lĩnh vực phụ trách.
- Quan hệ đối ngoại: Năm 2018 cũng đánh dấu việc chuyển giao vai trò điều phối giữa các nước ASEAN đối với các đối tác. Các nước đối thoại khẳng định ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong việc định hình cấu trúc khu vực mở, thu nạp, minh bạch và hoạt động dựa trên luật lệ...
Dự báo tình hình hợp tác ASEAN 2019
Về thời cơ: (1) Với lực lượng lao động trẻ và dồi dào (hơn 300 triệu người, lớn thứ 3 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ), ASEAN có nhiều cơ hội tranh thủ Cuộc cách mạng Công nghệ lần thứ 4; (2) ASEAN tiếp tục hiện thực hóa Tầm nhìn ASEAN 2025, xây dựng ASEAN “tự cường, sáng tạo”, hướng tới người dân và lấy người dân làm trung tâm, củng cố gắn kết và bản sắc chung; (3) ASEAN đã trở thành nhân tố luôn được chú trọng đến trong chính sách khu vực của các nước (đã có 91 nước và tổ chức cử Đại sứ tại ASEAN); ASEAN khẳng định được vị trí, vai trò ngày càng quan trọng ở khu vực và quốc tế; (4) Các đối tác bên ngoài ngày càng coi trọng và tranh thủ ASEAN, công khai ủng hộ các cơ chế, diễn đàn hiện có của ASEAN cũng như vai trò chủ đạo của ASEAN, tích cực gắn kết song phương với đa phương trong triển khai chính sách với khu vực.
Thách thức: (1) Việc duy trì đoàn kết thống nhất nội khối. Các nước thành viên phải đứng trước những lựa chọn khó khăn, nhất là trước các sức ép và tác động lôi kéo từ các nước lớn; (2) Vấn đề duy trì “mẫu số chung” để gắn kết các nước thành viên và thống nhất quan điểm đối với một số vấn đề khi lợi ích của cả 10 thành viên không tương đồng như Biển Đông đã và tiếp tục là thách thức lớn đối với ASEAN; (3) Các khó khăn, hạn chế cố hữu như sự đa dạng về thể chế, chênh lệch trình độ phát triển, hiệu quả chưa cao của bộ máy và các hoạt động hợp tác ASEAN, thiếu hụt nguồn lực, tỉ lệ liên kết kinh tế nội khối còn thấp... tiếp tục thử thách con đường phát triển của ASEAN.
4. Vì sao Việt Nam được lựa chọn là nơi tổ chức thượng đỉnh Mỹ - Triều?
Với việc trở thành địa điểm cho hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều, Việt Nam ghi dấu ấn như một quốc gia giành được sự tin cậy từ các bạn bè truyền thống đến những đối tác phát triển hàng đầu thế giới.
 
Chưa khi nào địa danh Hà Nội-Việt Nam được nhắc tới với tần suất dày đặc trên truyền thông khắp thế giới như trong những ngày qua. Bởi Việt Nam được hai nước Mỹ và Triều Tiên lựa chọn là địa điểm tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ hai, một sự kiện thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng và dư luận quốc tế.
Lý giải về việc tại sao lại là Hà Nội (Việt Nam) mà không phải là Bangkok (Thái Lan) hay Hawaii (Mỹ), những địa danh từng được đưa ra để lựa chọn cho cuộc gặp lần này, các chuyên gia Việt Nam và nước ngoài đều cho rằng đó là vì Việt Nam là biểu tượng cho một tiến trình bước qua chiến tranh, khép lại quá khứ, mở cửa hội nhập và phát triển.
Biểu tượng của tiến trình bước qua chiến tranh, khép lại quá khứ, mở cửa hội nhập và phát triển
Việt Nam - đất nước hình chữ S ngàn năm lịch sử; một đất nước có cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, có tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nền văn hóa đa dạng, độc đáo, hấp dẫn. Dân tộc Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn, yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do, trọng lễ nghĩa, luôn cần cù trong lao động, sáng tạo trong xây dựng phát triển đất nước. Người dân Việt Nam bình dị, hiền hòa và mến khách.
Ấy vậy mà nhiều năm trước, ở nhiều nơi, nhiều đất nước, khi nói đến Việt Nam, là người ta nói đến chiến tranh, đến số phận của một đất nước được quyết định ở những hội nghị hòa bình ở Paris, ở Geneva.
Có lẽ, họ không thể tin rằng, chỉ sau hơn 40 năm kể từ khi ngưng tiếng súng, vị thế, vai trò cũng như sức mạnh của Việt Nam đã hoàn toàn đảo ngược. Việt Nam đã khiến cả thế giới phải kinh ngạc bởi tinh thần quả cảm trong chiến tranh, và nể phục bởi những thành tựu kỳ diệu trong phục hồi và xây dựng đất nước.
Từ một quốc gia phải oằn mình đi qua các cuộc chiến tranh khốc liệt để bảo vệ nền độc lập tự do, Việt Nam đã từng bước vươn lên, thực hiện một "phép màu" phát triển kinh tế - xã hội, không phải bằng "chiếc đũa thần" mà bằng khối óc, bàn tay và ý chí.
Từ một nền kinh tế nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh, Việt Nam đã xây dựng một mô hình phát triển kinh tế đạt những thành tựu ấn tượng nhờ cải cách táo bạo, tích cực hội nhập nền kinh tế thế giới, được đánh giá là một trong những trường hợp chuyển đổi kinh tế - xã hội thành công nhất trên thế giới trong mấy thập niên vừa qua.
Việt Nam đã vươn lên thành nước có mức thu nhập trung bình của thế giới với khoảng 2.400 USD/người/năm. Tính đến tháng 1/2019, có 130 quốc gia và vùng lãnh thổ đang đầu tư 27.643 dự án tại Việt Nam. Dự báo, vốn FDI sẽ vẫn tiếp tục chảy mạnh vào Việt Nam trong năm 2019...
Việc tăng trưởng kinh tế đã cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phát triển khá nhanh với nhiều công trình hiện đại, tạo diện mạo mới cho đất nước. Giờ khó có thể đếm hết những công trình tầm cỡ, các tuyến đường lớn... trên dải đất hình chữ S.
Cùng với đó, tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa và công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, còn dưới 6%. Đã có gần 100% số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia...
Không chỉ ghi dấu ấn với bạn bè bằng những thành tựu kỳ diệu trong xây dựng đất nước, Việt Nam còn lưu lại trong lòng họ là những những phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, cảnh sắc hùng vĩ rung động lòng người.
Với những giá trị độc đáo về đa dạng sinh học, văn hóa và kiến trúc, Việt Nam có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được UNESCO vinh danh là điểm du lịch tuyệt vời hấp dẫn hàng đầu Đông Nam Á. Đặc biệt, Hà Nội, thủ đô duy nhất tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương được UNESCO trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”.
Là quốc gia đa sắc tộc với 54 dân tộc anh em cùng chung sống hòa bình, mỗi dân tộc mang những sắc thái đặc trưng về phong tục, tập quán, lễ hội. Sức hấp dẫn của Việt Nam đến từ nét văn hóa trù phú với những di sản thế giới được UNESCO công nhận song hành với sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới.
Là mái nhà chung của hàng triệu tín đồ, bên cạnh các tôn giáo lớn như phật giáo, công giáo, tin lành, hồi giáo và những tín ngưỡng bản địa như Cao Đài, Hòa Hảo, các tôn giáo mới vẫn tiếp tục được du nhập đã tạo nên một bức tranh tôn giáo muôn màu trong đời sống tâm linh của người Việt. Ở Việt Nam, tự do tín ngưỡng và tôn giáo luôn được tôn trọng và đảm bảo.
Và đặc biệt, với một đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng.
Việt Nam hôm nay đã có quan hệ ngoại giao với 188/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực; thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với 16 nước, Đối tác toàn diện với 11 nước...
Việt Nam đã chủ động, tích cực chung tay tham gia các công việc lớn của quốc tế; chủ động đóng góp xây dựng tại các diễn đàn quan trọng, thực sự là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế trên cả ba cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu, thể hiện sâu sắc tinh thần thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Cầu nối cho một tiến trình hòa bình lịch sử
Có nhiều lý do để Việt Nam được cả Mỹ và Triều Tiên lựa chọn. Đất nước hình chữ S đáp ứng gần như hoàn hảo tất cả tiêu chí về một nước chủ nhà cho kỳ hội nghị thượng đỉnh mà cả hai nước mong đợi.
Trong những năm qua, cùng với nền chính trị ổn định, môi trường an ninh an toàn, Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức thành công, an toàn tuyệt đối các hội nghị quốc tế tầm cỡ.
Nhìn về tương lai, Việt Nam sẽ đảm nhiệm cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2020 và đang là ứng cử viên duy nhất của nhóm các nước châu Á-Thái Bình Dương cho vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021.
Có thể khẳng định Việt Nam có vai trò đáng tin cậy trong tiến trình hòa bình trên bán đảo Triều Tiên. Việt Nam cũng nằm trong số ít quốc gia có mối quan hệ hữu nghị với cả Mỹ và Triều Tiên, đồng thời có vị trí địa lý thuận lợi cho việc di chuyển của lãnh đạo hai nước.
Với việc trở thành địa điểm gặp gỡ giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un, Việt Nam ghi thêm dấu ấn như một quốc gia giành được sự tin cậy từ các bạn bè truyền thống đến những đối tác phát triển hàng đầu thế giới.
Điều này càng có ý nghĩa lớn lao khi trong quá khứ từng cần sự hỗ trợ của bên thứ ba trong tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình để kết thúc chiến tranh thì ngày nay Việt Nam đã trở thành một cầu nối kiến tạo hòa bình trên bán đảo Triều Tiên, khu vực Đông Bắc Á và thế giới.
Sự kiện này cũng một lần nữa khẳng định thành công của chính sách đổi mới mà Việt Nam tiến hành trong hơn 30 năm qua. Con đường đúng đắn mà Đảng lựa chọn đã trao cho đất nước những vị thế mới trong cộng đồng quốc tế và là một hình mẫu phát triển đối với nhiều quốc gia.
Ông Grigory Lokshin, cán bộ nghiên cứu khoa học cao cấp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN - Viện Viễn Đông - Viện Hàn lâm Khoa học Nga cho biết việc Việt Nam tổ chức hội nghị quan trọng này cho thấy đây là một quốc gia có uy tín, được tôn trọng là đối tác triển vọng của nhiều nước.
Với tinh thần thiện chí, xây dựng và hữu nghị, Việt Nam hy vọng Hội nghị sẽ thành công tốt đẹp, mở ra những bước tiến đáng kể hướng tới hòa bình và thịnh vượng trên bán đảo Triều Tiên.
III. VĂN BẢN MỚI
Quyết định số 03/2019/QĐ-TTg, ngày 15/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí xác định xã, thôn hoàn thành mục tiêu Dự án 2 (Chương trình 135) thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020. Quyết định gồm 07 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2019. Một số nội dung chủ yếu của Quyết định:
- Phạm vi điều chỉnh: Các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu và các thôn, bản đặc biệt khó khăn thực hiện Dự án 2 (Chương trình 135) tại Điều 1 Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020.
- Tiêu chí Xã hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 là xã phải đạt được một trong hai tiêu chí sau: (1) Được cấp có thẩm quyền công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) hoặc được nâng lên thành phường, thị trấn; (2) Phải đạt được cả bốn điều kiện, gồm: a) Có tổng tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 dưới 35%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo dưới 20% (đối với các xã biên giới và xã an toàn khu không thuộc khu vực III, xã thuộc các tỉnh khu vực Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long; b) có tổng tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 dưới 25%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo dưới 15%); c) Đạt tiêu chí quốc gia về y tế; d) Có đường giao thông đạt tiêu chí 2 và có trường học đạt tiêu chí 5, Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM (giai đoạn 2016 - 2020).
Đồng thời đạt tối thiểu hai trong 6 điều kiện linh hoạt xác định theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM (giai đoạn 2016 - 2020), gồm: 1) Hệ thống thủy lợi đạt tiêu chí 3; 2) Điện đạt tiêu chí 4; 3) Cơ sở vật chất văn hóa đạt tiêu chí 6.1, 6.3; 4) Đài truyền thanh đạt tiêu chí 8.3; 5) Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch đạt tiêu chí 17.1; 6) Có trên 15% đại diện hộ nghèo, cận nghèo trong xã và trên 50% tổng số cán bộ cơ sở đã được tập huấn nâng cao năng lực thuộc Chương trình 135 và các chương trình, dự án, chính sách khác giai đoạn 2016 - 2020.
- Tiêu chí Thôn hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 là thôn đạt một trong ba tiêu chí sau: (1) Thôn của xã được công nhận đạt chuẩn NTM hoặc thôn được công nhận đạt chuẩn NTM; (2) Thôn có tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ 30%) đến dưới 65% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và đạt tối thiểu hai trong ba điều kiện: a) Trục chính đường giao thông thôn hoặc liên thôn được cứng hóa theo tiêu chí NTM; b) Từ 60% trở lên số phòng học cho lớp mẫu giáo, mầm non được xây dựng kiên cố; c) Có Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; (3) Thôn có tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo dưới 55% (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long dưới 30%) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và đạt tối thiểu một trong ba điều kiện: a) Trục chính đường giao thông thôn hoặc liên thôn được cứng hóa theo tiêu chí NTM; b) Từ 60% trở lên số phòng học cho lớp mẫu giáo, mầm non được xây dựng kiên cố; c) Có Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập31
  • Hôm nay59
  • Tháng hiện tại7,239
  • Tổng lượt truy cập62,026
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây